Hai bơm chìm cùng số kW có thể khác nhau ở họng xả, cánh và khả năng thông rác. Xếp hạng chúng theo kW dễ dẫn tới chọn nhầm, nhất là khi báo giá chỉ nêu công suất và đường kính họng. Dưới đây là cách so sánh theo bảng ba cột.

Bảng so sánh nên lập
| Mục | Máy A | Máy B | Cách đọc |
|---|---|---|---|
| Điểm làm việc yêu cầu | Ghi cùng một điểm cho cả hai | Ghi cùng một điểm cho cả hai | Điểm lấy từ công trình, không lấy từ catalog |
| Lưu lượng tại điểm đó | Đọc từ Q-H | Đọc từ Q-H | So sánh trực tiếp |
| Họng xả | Theo bản vẽ | Theo bản vẽ | Kiểm khớp với ống hiện có |
| Cỡ vật rắn đi qua | Theo tài liệu | Theo tài liệu | Chỉ so khi đơn vị và cách đo giống nhau |
| Công suất tiêu thụ tại điểm | Theo đường công suất | Theo đường công suất | Quan trọng với máy chạy lâu |
Họng xả khác nhau thì có chuyện gì?
Họng nhỏ hơn không nhất thiết là kém hơn, và họng lớn hơn không tự động là tốt hơn. Họng quyết định phụ kiện nối, đường ống đi kèm và vận tốc nước ở đầu xả. Nếu ống hiện có đã cố định, bạn có thể phải thêm côn hoặc khớp chuyển, và những phụ kiện đó nằm trong chi phí lẫn tổn thất áp lực.
Ba câu hỏi để loại bớt phương án
- Máy nào đạt điểm làm việc khi đọc trên đường đặc tính đúng tần số?
- Họng và khớp nối của máy có khớp với tuyến ống hay chân đế hiện có không?
- Tài liệu có ghi rõ cỡ vật rắn đi qua và điều kiện đo không?
Tránh kết luận “cùng kW thì như nhau” hoặc ngược lại “họng lớn hơn thì dùng tốt hơn”. Cả hai đều chưa đủ căn cứ. Hãy để dữ liệu quyết định.
Ví dụ cách ghi giả định để so sánh
Giả sử công trình cần một điểm làm việc ghi trong đầu bài. Máy A đọc ra lưu lượng cao hơn nhưng họng nhỏ hơn ống hiện có, còn máy B gần với yêu cầu hơn nhưng cần thêm khớp chuyển. Lựa chọn không chỉ nằm ở lưu lượng, mà còn ở chi phí phụ kiện, tổn thất áp lực và công lắp. Đó là lý do cần bảng đối chiếu trước khi quyết định.
Để bắt đầu, xem các dòng ở nhóm bơm chìm Perotac và gửi điểm làm việc cần thiết qua trang liên hệ; mỗi model sẽ được đối chiếu theo tài liệu riêng.

