Catalog Aquaris CM có một cột ít người để ý: I (A) ở 400 V, nằm ngay sau công suất P2. Đây là dữ liệu tham khảo để trao đổi với đơn vị thiết kế điện, chưa đủ để chọn aptomat, cáp hoặc đặt bảo vệ. Nhưng dòng điện bơm Aquaris CM trong catalog chỉ là số tham khảo theo điện áp chuẩn; giá trị chỉnh relay cuối cùng phải lấy từ nhãn động cơ và điện áp thực tế tại công trình.
Cột I (A) nằm ở đâu và ghi theo điều kiện nào
Trong bảng PERFORMANCE DATA của mỗi nhóm CM32, CM40, CM50, CM65, CM80, catalog ghi theo thứ tự: số thứ tự, model, P2 (kW và HP), I (A) 400 V, rồi tới các cột cột áp theo lưu lượng. Toàn bộ dòng CM dùng động cơ 3 pha 3~ 380–415 V, 50 Hz, IP55, cách điện cấp F. Bảng catalogue này không liệt kê bản 1 pha.
Ba điều cần nhớ khi đọc cột này:
- Mỗi model chỉ có một giá trị dòng, không đi theo từng điểm lưu lượng. Đó là dòng của động cơ ở 400 V, không phải dòng đo được khi bơm chạy ở một điểm cụ thể trên đường đặc tính.
- Catalog ghi rõ số liệu trong bảng là giá trị trung bình của máy sản xuất loạt, hãng có quyền thay đổi. Máy giao thực tế có thể lệch nhẹ.
- Điện áp, dòng từng pha và nhãn động cơ giao thực tế cần được kiểm riêng; không suy dòng vận hành chỉ từ điện áp danh nghĩa.
Cùng 11 kW nhưng dòng không giống nhau
Nhiều người mặc định “bơm cùng kW thì tủ điện giống nhau”. Bảng dưới đây lấy từ chính catalog Aquaris CM cho thấy điều đó chỉ đúng gần đúng. Bốn mã 11 kW có dòng từ 21 đến 25 A; ở mức 22 kW, dòng cũng khác nhau giữa CM50 và CM80.
| Model | P2 (kW) | I (A) ở 400 V | Trang catalog |
|---|---|---|---|
| CM32-160/1.5 | 1,5 | 4 | 2/12 |
| CM32-250/7.5 | 7,5 | 16 | 2/12 |
| CM40-250/11 | 11 | 25 | 3/12 |
| CM50-200/11 | 11 | 22 | 4/12 |
| CM65-160/11 | 11 | 23 | 5/12 |
| CM80-160/11 | 11 | 21 | 7/12 |
| CM50-250/22 | 22 | 49 | 4/12 |
| CM80-160/22 | 22 | 41 | 7/12 |
Nguồn: Catalog AQUARIS – Bơm trục ngang CM, bảng PERFORMANCE DATA các trang 2/12 đến 7/12 (catalog gộp trang 14–19), 3~ 380–415 V, 50 Hz, cột I (A) 400 V.
Chênh lệch 8 A giữa hai mã 22 kW là đủ để rơi sang nấc relay khác. Vì vậy khi một tủ điện dự phòng dùng chung cho nhiều bơm, cần ghi rõ model đi kèm, không chỉ ghi “22 kW”.

Những dữ liệu còn thiếu để thiết kế tủ điện
Aptomat phải được phối hợp với khả năng chịu dòng của cáp, dòng ngắn mạch dự kiến, đặc tính khởi động và thiết bị bảo vệ động cơ. Chọn đơn giản một cấp lớn hơn dòng catalogue có thể không bảo vệ đúng đường dây. Contactor còn cần đúng cấp sử dụng, điện áp cuộn hút và số lần đóng cắt.
Relay bảo vệ quá tải phải được chọn và chỉnh theo nhãn motor, sơ đồ đấu, vị trí relay, hướng dẫn nhà sản xuất và điều kiện vận hành. Với sao–tam giác, vị trí thiết bị trong mạch ảnh hưởng cách xác định dòng cài đặt. Không lấy một phép chia cố định trên mạng để tự chỉnh tủ.
Kỹ sư điện cần chiều dài và cách đi cáp, nhiệt độ môi trường, số mạch đi chung, yêu cầu sụt áp, hệ thống nối đất và phối hợp bảo vệ. Nếu dùng biến tần hoặc khởi động mềm, phải kiểm tính tương thích của motor và hướng dẫn cả hai thiết bị.
Ví dụ dùng bảng đúng mục đích
Một hồ sơ dự kiến dùng CM50-200/11 có thể ghi “catalogue: 22 A tại 400 V; dòng thực tế và bảo vệ theo nhãn motor giao”. Đơn vị tủ điện nhận thông tin này cùng phương án khởi động, chiều dài cáp và nguồn cấp để tính thiết bị. Không chuyển 22 A thành một mã aptomat hay trị số relay cố định trước khi đủ dữ liệu.
Khi dòng đo được cao hơn catalog
Bơm ly tâm chạy càng về phía lưu lượng lớn thì công suất trục thường càng tăng. Nếu ampe kìm đo được dòng vượt nhãn, hãy kiểm các nguyên nhân phía thủy lực trước khi chỉnh relay: van xả mở quá rộng, đường ống ngắn hơn thiết kế khiến bơm chạy ra ngoài cuối bảng, chất lỏng nặng hơn nước. Phía điện thì kiểm điện áp từng pha và độ lệch pha. Dòng thấp bất thường lại có thể là dấu hiệu bơm chạy gần đóng van hoặc hút lẫn khí.
Tải catalog AQUARIS – Bơm trục ngang CM (điền form nhận link)
Xem bơm trục ngang Aquaris hoặc gửi thông tin công trình để kiểm model.

